Làm sao tìm được Trường ca Tiếng hát dã tràng của Trịnh Công Sơn
Khi hỏi về chuyện thời gian nhạc sĩ Trịnh Công Sơn học Sư phạm Qui Nhơn nhiều người bạn học cùng lớp, cùng khóa hoặc cùng trường với anh như Trương Văn Thanh, La Quang Thanh, Lê Thị Ngọc Trinh, Nguyễn Văn Xa, Nguyễn Thị Sâm... cũng nhắc đến trường ca Tiếng hát dã tràng và ai cũng tiếc bài ca ấy đã thất lạc.

Sau ngày Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm (1-4-2001), họa sĩ Đinh Cường từ Virginia (Hoa Kỳ) gởi cho tôi bài hồi ức hết sức cảm động về "Tình bạn hồi sinh cơn hôn mê"[1] – tình bạn suốt cuộc đời giữa họa sĩ Đinh Cường và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Trong bài hồi ức ấy Đinh Cường cho biết: "Thời Qui Nhơn này của Sơn phải kể đến trường ca Tiếng hát dã tràng, mùa hè năm 1964, trong lễ ra trường. Sơn đã dàn dựng cùng bạn bè hát rất thành công. Sơn đã chép tặng tôi (Đinh Cường) mấy trang bản trường ca này. Tôi đem về, dán đầy các ô cửa kính. Tiếc là bây giờ thất lạc, không tìm lại được".

Khi hỏi về chuyện thời gian nhạc sĩ Trịnh Công Sơn học Sư phạm Qui Nhơn nhiều người bạn học cùng lớp, cùng khóa hoặc cùng trường với anh như Trương Văn Thanh, La Quang Thanh, Lê Thị Ngọc Trinh, Nguyễn Văn Xa, Nguyễn Thị Sâm... cũng nhắc đến trường ca Tiếng hát dã tràng và ai cũng tiếc bài ca ấy đã thất lạc.

Cho đến lúc Trịnh Công Sơn qua đời, tôi chỉ biết chứ chưa hề được nghe hoặc được thấy trường ca Tiếng hát dã tràng lần nào. Nhưng các bạn của Trịnh Công Sơn cả quyết với tôi rằng:

– Trường ca Tiếng hát dã tràng là trường ca đầu tiên của Trịnh Công Sơn, ghi nhiều dấu ấn ảnh hưởng đến cả cuộc đời sáng tác của anh sau này!

Có đúng như thế không?

1. Đi tìm trường ca Tiếng hát dã tràng

Tôi không thể hiểu được vì sao một tác phẩm quan trọng đến thế mà Trịnh Công Sơn lại không muốn nhắc đến và trong di cảo của anh cũng không thấy lưu! Phải chăng đây là một bí ẩn? Điều khó hiểu ấy đã kích thích cái óc thích khám phá của tôi. Tôi quyết tâm đi tìm trường ca Tiếng hát dã tràng.

Tôi vào Qui Nhơn hỏi chuyện. Qui Nhơn không còn ai biết trường ca Tiếng hát dã tràng cả. Một vài người kể những chuyện cũ vặt vãnh từng làm cho Trịnh Công Sơn bực mình mà thôi. Tôi vào Nha Trang qua Trần Thanh Vệ (con trai của nhà thơ Thanh Tịnh) và nhà báo Bảo Chân (phóng viên đại diện báo Lao Động tại Khánh Hòa) tôi gặp được nhạc sĩ Văn Bình (Phan) ở Phước Tân. Văn Bình học một lớp (1962-1964), ở một nhà trọ, cùng hoạt động âm nhạc với Trịnh Công Sơn tại trường Sư phạm Qui Nhơn. Văn Bình và Trịnh Công Sơn có nhiều kỷ niệm sâu sắc (X. H.15 & H.16.). Được Trịnh Công Sơn hướng dẫn, Văn Bình hát trường ca Tiếng hát dã tràng rất đạt. Nhờ thế đến năm 1973, Văn Bình chỉ huy sinh viên dàn dựng lại trường ca Tiếng hát dã tràng nhân lễ trao bằng tốt nghiệp của Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải (Nha Trang). Tác giả Trịnh Công Sơn được mời làm khách danh dự của buổi trình diễn ấy. Và, không những Trịnh Công Sơn mà còn có các bạn của anh là nhà văn dịch thuật Pháp ngữ Bửu Ý, họa sĩ Đinh Cường, điêu khắc gia Lê Thành Nhơn. Điều đáng tiếc là... cho đến nay Văn Bình cũng không có bản trường ca Tiếng hát dã tràng nào trong tay cả.

Sau khi gặp tôi ở Nha Trang, Văn Bình đã lao vào việc giúp tôi tìm trường ca Tiếng hát dã tràng. Văn Bình không tìm được bài hát mà chúng tôi đang tìm, nhưng may sao, anh lại tìm được tấm ảnh nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mặc veston đứng trên bục điều khiển Ban Đại hợp xướng của trường Sư phạm Qui Nhơn trình diễn trường ca Tiếng hát dã tràng trong Đại nhạc hội do giáo sinh Sư phạm Qui Nhơn tổ chức vào cuối năm 1964 (X. H.12).

Vốn là một người ham thích lịch sử, tôi coi tấm ảnh ấy quý như vàng.

Từ khi có tấm ảnh Trịnh Công Sơn chỉ huy Ban Đại hợp xướng, ý muốn tìm cho được bản trường ca Tiếng hát dã tràng trở nên gay gắt trong tôi. Tôi gặp người anh bà con là nhạc sĩ Nguyễn Đình Niêm[2] (thầy giáo dạy nhạc tại Trung tâm văn thể mỹ Huế) – nguyên là Giáo sinh Sư phạm Qui Nhơn khóa 3 (X. H.14), nhờ anh mời những người còn thuộc trường ca Tiếng hát dã tràng họp mặt, hát, thu cassette rồi ghi lại (solfège). Những cựu giáo sinh Sư phạm Qui Nhơn đang sống ở Huế còn thuộc trường ca Tiếng hát dã tràng là các thầy cô giáo Trương Văn Thanh (trong ban nhạc Thanh Sơn Hải) (X. H.13), Nguyễn Văn Duệ, Nguyễn Văn Xa, Lê Thị Ngọc Trinh, Nguyễn Thị Sâm... Nhạc sĩ Nguyễn Đình Niêm cho biết hằng năm các cựu giáo sinh Sư phạm Qui Nhơn đều có họp mặt và luôn nhớ đến trường ca Tiếng hát dã tràng, nhưng vì thấy tác giả không còn muốn nhắc đến giai đoạn anh học Sư phạm Qui Nhơn và nhắc đến trong hoàn cảnh nào anh đã sáng tác nên những bài Biển nhớ, Lời buồn thánh, trường ca Tiếng hát dã tràng v.v... tại Qui Nhơn nên dù họ rất thích nhạc Trịnh Công Sơn, tự hào đất Huế đã sản sinh ra nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng họ vẫn không muốn bị hiểu lầm là "thấy sang bắt quàng làm họ" nên họ cũng không nhắc đến làm gì nữa. Bây giờ Trịnh Công Sơn đã qua đời, các bạn ấy sẵn sàng giúp tôi ghi lại trường ca Tiếng hát dã tràng. Không ngờ, gặp nhau trong một tiệc cưới, khi nghe nhạc sĩ Nguyễn Đình Niêm cho biết đang chuẩn bị mời những người còn thuộc trường ca Tiếng hát dã tràng hát để ghi lại cho tôi, anh Nguyễn Hồ – nguyên học cùng khóa, cùng lớp với Trịnh Công Sơn tại Qui Nhơn rất vui vẻ báo tin:

– "Cần gì ghi, hồi tập hát trường ca Tiếng hát dã tràng ở Qui Nhơn các bạn có ghi cho mình một bản, hiện nay bà xã mình vẫn còn giữ!"

Ôi thú vị làm sao! Chuyện tưởng phải đi một ngàn bước, không ngờ mới khởi hành đã đến đích. Có người bảo tôi: "Có lẽ Trịnh Công Sơn muốn giao ông làm công việc này nên ông mới được phù hộ may mắn đến như vậy!". Nếu đó là sự thật thì hân hạnh cho tôi biết mấy.

2. Bài hát thơ về thân phận dã tràng, sự đau khổ và tìm chốn nương náu ở tình yêu

Như chúng ta đã biết, Trịnh Công Sơn xuất thân trong một gia đình khá giả. Không may, cụ thân sinh mất sớm, thân mẫu anh không đủ sức chống đỡ sự suy sụp tình cảm và kinh tế của gia đình. Đến đầu những năm sáu mươi gia đình anh rơi vào hoàn cảnh rất bi đát. Chuyện học hành của các em anh bị nghẽn tắc, gian phố lớn ở Ngã Giữa (đường Phan Bội Châu, nay là đường Phan Đăng Lưu) – nơi buôn bán làm ăn, phải đổi chủ, cả gia đình qua thuê một căn hộ nhỏ hẹp ở trước nhà thờ Phủ Cam để ở. Lúc này Trịnh Công Sơn đã bắt đầu yêu, yêu những người con gái khuê các ở Huế như Ph.Th., B.D v.v... Hoàn cảnh của gia đình anh sa sút đến như thế làm sao anh có thể đạt được tình yêu. Bản thân Trịnh Công Sơn lại còn bị đe dọa, bị "động viên" nữa. Anh rời Huế vào Qui Nhơn học Sư phạm như một giải pháp vừa để tránh chuyện đi lính vừa kiếm sống cho bản thân. Tất cả những thứ ấy tác động mạnh lên tình cảm của chàng trai 23 tuổi Trịnh Công Sơn. Để tìm một nguồn vui, tìm một lối thoát cho tinh thần, nằm ở nhà trọ trong tiếng sóng biển Qui Nhơn rì rào, Trịnh Công Sơn đọc Albert Camus (1913-1960) – một triết gia hiện sinh vừa được Giải Nobel (1957). Anh thích nhất là tập Le Mythe de Sisyphe – cuốn khảo luận nói về sự phi lý (l’absurde) của cuộc đời. Tất cả những gì con người nỗ lực xây dựng nên rồi cũng chẳng đi đến đâu, giống như anh chàng Sisyphe bị khổ sai hằng ngày phải đẩy một tảng đá lên núi cao và thả tay cho tảng đá lăn xuống vực rồi sau đó lại cố sức đẩy lên rồi lại thả tay. Tất cả sự nỗ lực ấy không có nghĩa gì hết, giống như công dã tràng xe cát vậy. Hoàn cảnh gia đình anh cũng thế. Cụ thân sinh nỗ lực xây dựng nên một gia đình khá giả rồi ông bị tai nạn chết một cách phi lý kéo theo sự sụp đổ của gia đình... cũng hết sức phi lý. Anh vào Sư phạm Qui Nhơn như một dấn thân có tính tình thế. Thanh niên Qui Nhơn lúc ấy chưa hiểu anh và những người bạn từ Huế vào, họ đã vô tình có nhiều hành vi thô bạo đối với anh. Anh bị xô đẩy vào một nỗi bi thảm vô vọng đến rã rời.

Cũng trong thời gian này Trịnh Công Sơn hay giải buồn bằng cách chơi các loại dân ca, thánh ca, các bài nhạc theo điệu Blues của người da đen ở châu Mỹ như bài Sometimes, bài Ave Maria... Phong cách các bài nhạc này có một ảnh hưởng không nhỏ đối với sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn sau này.

Giữa lúc ấy, trường Sư phạm yêu cầu anh soạn một trường ca để biểu diễn trong một Đại nhạc hội do trường Sư phạm Qui Nhơn tổ chức. Anh không thể từ chối nên trường ca Tiếng hát dã tràng đã ra đời.

Trường ca Tiếng hát dã tràng chép gần đầy 7 trang A4, gồm có hai phần với 13 đoản khúc (vì con số 13 này mà trường ca Tiếng hát dã tràng bị thất lạc chăng?):

Dã tràng 1:

– Đoản khúc 1: Lời biển vọng.

Nhịp 2/4, chậm rãi, réo rắt, là tiếng kêu thống thiết của "dã tràng khóc cho thân mình" trước cảnh "trùng dương đưa sóng vào bờ, đùa lên biển cát hoang vu xóa từng mảnh công dã tràng".

– Đoản khúc 2: Tiếng hát của dã tràng – bể cát và thân phận đó.

Nhịp 4/4, khoan thai réo rắt. Giữa không gian và thời gian của trời đất, tác giả cũng là một con dã tràng bị lưu đày (exilé) trong nỗi cô đơn: "Khi mưa lên, khi nắng về, khi sương rơi, trong thu buồn, khi chim én bay vào mùa xuân, mình tôi đi, triền núi đến, tôi xe cát trong thân lưu đày".

– Đoản khúc 3: Bãi cát chiều và lời vỗ về của người khách lạ.

Vẫn nhịp 4/4 (các đoản khúc sau đều nhịp 4/4), réo rắt. Nhận thức hiện tượng dã tràng là một thực thể, một qui luật khắt khe, thân phận con người cũng thế. Trịnh Công Sơn vỗ về dã tràng như vỗ về thân phận làm người của chính mình: "Này dã tràng ơi, nghe thân lưu đày, ngàn năm còn mãi, ngàn sau còn mãi cho vai thêm gầy khi nắng khi mưa".

– Đoản khúc 4: Niềm đau vô vàn của thân phận.

Cuộc đời sẽ không còn gì như công dã tràng: "Thôi còn gì nữa đâu, còn gì nữa đâu xác dã tràng trắng bể thù sâu". Những gì con người làm ra rồi cũng là công dã tràng. Tuy nhiên, đã mang thân phận làm người thì chỉ "... còn dài mai sau đời lên cơn đau". Một ý niệm gặp gỡ đạo Phật: "Đời là khổ".

– Đoản khúc 5: Lời nói trên không.

Sóng Trùng dương như một qui luật khắt khe "Quên dã tràng đêm ngày xe cát". Nhưng sóng Trùng dương nào có biết: sóng đã vô tình gọi dậy "cơn đau" của con người. Những đêm không ngủ, nghe tiếng sóng vỗ Trịnh Công Sơn càng thấy xót xa cho thân phận mình.

Dã tràng 2:

– Đoản khúc 6: Tuổi hai mươi vào đời.

Diễn tả hoàn cảnh vào đời của tác giả. Bắt đầu hơi nhạc dõng dạc, khoan thai, về sau chán nản, buông xuôi. Ban đầu anh cũng như mọi thanh niên khác rất tin tưởng, hồ hởi, bước vào đời nhưng rồi do hoàn cảnh, anh phải sống với nội tâm và ngay ở tuổi hai mươi, anh đã thấy cái vô nghĩa của cuộc đời.

"... tôi, khi hai mươi tuổi rồi
có những đêm chong đèn ngồi

chợt nhìn sâu đêm tối
chợt hồn nghe tiếng nói dã tràng".

– Đoản khúc 7: Niềm đau khoảng không.

Hơi nhạc da diết thổ lộ chính cuộc đời không còn biết vui của mình và từ đó ý thức được sự hiện hữu của mình: "Từ đó tuổi hai mươi không còn biết vui. Từ đó đêm suy tư cho đời lắng sâu, những đêm khuya về rã rời, bàn tay hoang vu gọi mãi, gọi vào niềm không buốt đau, gọi vào ngày sau nhớ nhau".

– Đoản khúc 8: Bốn mùa và tuổi đó.

Giữa giông tố của cuộc đời Trịnh Công Sơn, không chịu khuất phục theo số phận, anh cố gượng dậy. Nét nhạc trở nên mạnh mẽ khác thường: "Xuân hạ thu đông bốn mùa làm tóc trắng, tôi gọi tên tôi khắp chốn non ngàn, tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố, xuân hạ thu đông theo gót chân hờ".

– Đoản khúc 9: Chốn nương náu.

Sau khi biết dìu mình đi trong bão tố, để có thể đứng được trước bão tố, Trịnh Công Sơn tìm thấy chỉ có một chỗ nương náu chính là tình yêu. Anh: "Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu, sáng lên đồi núi, bắt loa gọi vào tình yêu".

– Đoản khúc 10: Lời buồn thánh.

Gọi vào tình yêu nhưng tình yêu chưa đáp lại. Hơi nhạc kể lể réo rắt như nhắc lại một điều hiển nhiên để thấy rõ thêm thân phận mình. Cái bi kịch của con người là biết mất mát, biết khổ, biết đau nhưng không dám nói ra mà trái lại giấu tất cả những nỗi mất mát khổ đau đó "trong môi cười". Đó là trường hợp của Trịnh Công Sơn, là Lời buồn thánh.

"Ngai vàng đã mất lâu rồi,
Thân đày giấu trong môi cười
Tay dài gối giấc ngủ vùi
Nghe mình hóa thân lâu rồi".

– Đoản khúc 11: Bốn mùa là niềm vô vọng.

Mỗi lần bị thân phận kéo xuống, Trịnh Công Sơn lại gượng đứng dậy. Dù bốn mùa là niềm vô vọng, nhưng anh vẫn không mất niềm tin, vẫn chờ như Nguyễn Du: "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều". Nét nhạc lấy lại của đoản khúc 8 mạnh mẽ hẳn lên: "Xuân hạ thu đông bốn mùa làm tóc trắng, tôi gọi cơn đau cho nước vỡ nguồn, tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố, dã tràng hai tay với những tháng năm chờ".

– Đoản khúc 12: Ngỏ ý.

Anh chờ gì? Chờ tình yêu cứu rỗi. Anh không còn gì hết. Không còn nơi bám víu. Chỉ còn hy vọng một chút ở tình yêu. Khát khao tình yêu, hơi nhạc trở nên vội vã giục giã: "Còn gì đâu, còn gì đâu mà không thương nhau. Niềm hoang vu gói đầy mắt dại, niềm cô đơn như mây ngàn tới, còn gì đâu, còn gì đâu mà không thương nhau".

– Đoản khúc 13: Chốn ẩn trú cuối cùng (Tình yêu mọc cánh thiên thần).

Chỗ ẩn náu cuối cùng là tình yêu. Lúc này anh đang yêu B.Kh. – một hình ảnh đã gây cảm xúc cho bài Biển nhớ. Cô giáo sinh Hoàng tộc B.Kh. chưa có biểu hiện gì đáp lại tình yêu của anh. Kết thúc trường ca thể hiện khát vọng tình yêu chưa đến. Chưa đến trong trường ca Tiếng hát dã tràng ở Qui Nhơn và cũng chưa đến trong cuộc đời sáng tác nhạc của anh sau này.

"Tên tháng ngày viết trên môi cười,
Đốt đêm dài nghe ngóng tình yêu,
Nghe dã tràng xuống hai vai gầy,
Đốt cơn buồn đi đến tình yêu,
Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu
Ta ra ngàn lối bắt loa gọi vào tình yêu".

3.  Trường ca Tiếng hát dã tràng dự báo thiên tài âm nhạc họ Trịnh.

Trường ca Dã tràng về hình thức là một bài hát thơ dài, thể hiện đầy đủ nhất phong cách ca nhạc Trịnh Công Sơn. Về ý tưởng, do hoàn cảnh thực tế của gia đình, do ảnh hưởng của Phật giáo mà anh đã hấp thụ từ nhỏ, và do sách báo, âm nhạc ngoại quốc xâm nhập vào miền Nam Việt Nam lúc ấy, tư tưởng của Trịnh Công Sơn trong trường ca Tiếng hát dã tràng nhuốm màu triết lý về thân phận làm người. Kiếp người là vô nghĩa, con người là khổ đau, chỉ có tình yêu mới làm vơi bớt khổ đau. Về sau anh phát triển thêm, con người muốn bớt khổ đau phải có nhau, phải biết thương nhau "sỏi đá cũng cần có nhau". Nhạc sĩ Văn Bình cho rằng: "Trường ca Tiếng hát dã tràng là kho lưu trữ những ưu tư mà ta thường bắt gặp lại trong nhiều ca khúc của Trịnh Công Sơn sau này ví như Lời buồn thánh, Đóa hoa vô thường".

Trịnh Công Sơn viết trường ca Tiếng hát dã tràng trong giai đoạn sa sút nhất về tinh thần và vật chất. Những người hiểu hoàn cảnh bi đát, vô vọng của Trịnh Công Sơn lúc đó thì mới hiểu được trường ca Tiếng hát dã tràng. Còn những người không hiểu sẽ không thích, mà còn có thể cho rằng Trịnh Công Sơn bi quan, yếu đuối. Có lẽ vì thế mà Trịnh Công Sơn không muốn nhắc đến giai đoạn Qui Nhơn với trường ca Tiếng hát dã tràng để tránh sự hiểu lầm. Trịnh Công Sơn cố quên nhưng bạn bè anh, những người muốn hiểu đích thực cuộc đời của anh vẫn cố tìm cho được để nhớ và nhớ mãi.

H.12 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chỉ huy Ban hợp xướng trình diễn Trường ca "Tiếng hát dã tràng" trong Đại nhạc hội lần thứ nhất do trường Sư phạm Qui Nhơn tổ chức (1962). Ảnh tư liệu Phan Văn Bình do NĐX sưu tập.

H.13 Sau đúng 40 năm (1962-2002), Trương Văn Thanh chơi lại bài Tiếng hát dã tràng

để tưởng nhớ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ảnh NĐX

H.14 Nhạc sĩ Nguyễn Đình Niêm xem lại selfège trường ca Tiếng hát dã tràng

trước khi công bố. Ảnh NĐX

H.15 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (đứng ngoài bên trái) và nhạc sĩ Phan Văn Bình (đứng ngoài bên phải) cùng các bạn giáo sinh Sư phạm tại Qui Nhơn (1963). Ảnh kỷ niệm của Phan Văn Bình

H.16 Tác giả tìm gặp nhạc sĩ Phan Văn Bình tại Phước Tân, Nha Trang.

 

Gác Thọ Lộc, 30. 12. 2001

 

[Nguồn: Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Công Sơn có một thời như thế (tái bản), Nxb văn hóa 2016, tr. 33-54]

[1] Sau này in trong sách Trịnh Công Sơn (1939-2001) cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa và suy tưởng, Những Ban Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.52-68. Nhân đây xin đính chính một niên đại chưa chính xác: sau khi bài viết của tôi đăng trên KTNN, nhiều người đã từng ở trong Ban Hợp xướng hát Dã tràng ca thuở ấy cho biết trường ca này được sáng tác và biểu diễn trong Đại nhạc hội lần thứ nhất vào năm 1962 chứ không phải trong buổi lễ mãn khóa vào năm 1964 như Đinh Cường đã nhớ nhầm. NĐX.

[2] Nhạc sĩ Nguyễn Đình Niêm là con trai cụ Nguyễn Đình Thị – người được vua Khải Định cho đi học đàn Violon đầu tiên ở Huế và cụ Nguyễn Đình Thị đã trở thành violoniste số 1 của Huế hồi nửa đầu thế kỷ XX.

 

 
 
Các bài Nghiên cứu khác