Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với phố biển Quy Nhơn
Trong lúc chờ đợi những công trình lớn đó, tôi xin cung cấp những thông tin cần biết về anh trong những giai đoạn mà anh ít có dịp nhắc đến. Trong bài viết ngắn này tôi dành cho chủ đề nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với phố biển Qui Nhơn.

Do thói quen nghề nghiệp, trong mấy năm trở lại đây, mỗi lần gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tôi đều nhắc anh ghi chép cẩn thận tiểu sử biên niên của anh và sao chép toàn bộ những hình ảnh sách báo dư luận trong và ngoài nước viết về Trịnh Công Sơn để sau này cung cấp cho những người muốn biết cụ thể về đời anh. Trịnh Công Sơn cho tôi biết đã có một ai đó hứa giúp anh. Nghe đáp thế tôi rất yên tâm. Không ngờ sau khi anh nằm xuống, nhiều thông tin viết về anh không đúng nhưng không có một tư liệu nào chính thức để căn cứ vào đó mà hiệu đính. Ngay cả những người cùng gặp anh hằng ngày vẫn không nắm được cụ thể nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc đời sáng tác nhạc của anh. Tôi nghĩ chắc có nhiều người đang thực hiện việc sưu tầm biên soạn sách về cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn nhưng vì một lý do nào đó nên chưa công bố. Trong lúc chờ đợi những công trình lớn đó, tôi xin cung cấp những thông tin cần biết về anh trong những giai đoạn mà anh ít có dịp nhắc đến. Trong bài viết ngắn này tôi dành cho chủ đề nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với phố biển Qui Nhơn.

1. Từ trường Thiên Hựu (Providence) Huế đến trường Sư phạm Qui Nhơn

Thời gian vừa qua nhiều tờ báo viết về thời gian Trịnh Công Sơn theo học tại trường Thiên Hựu không mấy chính xác. Theo thầy giáo Bửu Văn (anh ruột của họa sĩ Bửu Chỉ) bạn học cùng lớp với Trịnh Công Sơn tại trường Thiên Hựu cho biết: Trịnh Công Sơn chỉ học ở trường Thiên Hựu một niên khóa (1957-1958) mà thôi. Đến tháng 6-1958, Trịnh Công Sơn cùng Bửu Văn vào Đà Nẵng ở trọ tại nhà 91 đường Phan Châu Trinh (nhà của ông Bửu Dũng) để đi thi Tú tài tại Collège Francais de Tourane (tức là trường Plaise Pascal). Qua kỳ thi ở Đà Nẵng, Trịnh Công Sơn đã đỗ Tú tài. Mấy năm sau anh đến tuổi đi học sĩ quan Thủ Đức. Trong lúc đang "khủng hoảng" vì sợ bị bắt đi học sĩ quan anh được tin bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn chiêu sinh để mở trường Sư phạm Qui Nhơn. Dù chưa bao giờ định làm thầy giáo anh cũng ghi danh thi vào Sư phạm để may ra còn "giữ thân" được thêm vài năm nữa. Cùng với Trịnh Công Sơn, nhiều sinh viên đang học Đại học (như Hồ Quang Hải tức nhạc sĩ Thanh Hải), hay đã đỗ Chứng chỉ Dự bị Văn khoa (như Lê Thị Ngọc Trinh), đỗ Chứng chỉ Toán Lý Hóa – MPC (như Trương Văn Thanh) cũng "lều chõng" thi vào Sư phạm Qui Nhơn và đều đỗ. Những "giáo sinh" này là những người hoạt động âm nhạc nổi tiếng từ nhiều năm trước ở Huế. Đến Qui Nhơn, những người chơi nhạc ở Huế tụ lại lấy âm nhạc để xua đi nỗi nhớ nhà. Tự nhiên ở thành phố biển Qui Nhơn xuất hiện một "ban nhạc" không chuyên Thanh Sơn Hải. Thanh tức Trương Văn Thanh "cây" violon chủ đạo trong các thánh lễ nhà thờ ở Huế; Sơn tức Trịnh Công Sơn chơi ghi-ta thùng, tác giả bài Ướt mi đang ăn khách với giọng ca trầm buồn Thanh Thúy. Hải tức Thanh Hải (biệt hiệu của Hồ Quang Hải) "ông vua" ghi-ta điện chuyên trình diễn các bài nhạc kích động như Rock, Twist trong các vũ trường, các phòng trà.

2. Các đêm nhạc hội trên đất Qui Nhơn

Khi trường Sư phạm Qui Nhơn ra đời, thầy Đinh Thành Chương được cử làm hiệu trưởng. Biết được tài năng của đám nghệ sĩ Huế, thầy Chương đã giao cho họ tổ chức các hoạt động văn nghệ để khai giảng khóa Sư phạm đầu tiên của trường. Trương Văn Thanh (lớp 10 thường xuyên) được bầu làm Trưởng Ban Văn nghệ. Cùng với Trịnh Công Sơn, Thanh Hải, Ban Văn nghệ đã qui tụ được các tài năng ca múa nhạc đến từ các tỉnh miền Trung như La Quang Thanh (hát, nhảy claquette), Lê Thị Ngọc Trinh (đơn ca), Phan Thị Thăng (đơn ca), Bích Khê, Bạch Tuyết, Bạch Vân (em Tuyết), Nguyễn Văn Duệ v.v... Văn nghệ trường Sư phạm tổ chức ba đêm Đại nhạc hội tại rạp Kim Khánh rất thành công. Nhờ hoạt động của Văn nghệ mà trường Sư phạm Qui Nhơn mới ra đời đã được khắp nơi biết tiếng. Sau đợt hoạt động đó, Ban Văn nghệ trường Sư phạm Qui Nhơn với các tên tuổi Thanh Sơn Hải còn tổ chức nhiều nhạc hội khác trong những năm tiếp sau.

3. Phố biển Qui Nhơn với âm nhạc Trịnh Công Sơn

Lúc mới vào Qui Nhơn, ba anh chàng nhạc sĩ Sơn Thanh Hải cùng thuê chung một phòng trọ ở số 70 đường Gia Long. Những tối trời nóng ba anh em lên sân thượng trên lầu đàn hát cho đến khuya. Sơn rất thích hát các bài Sometimes (dân ca của người da đen làm đồn điền ở miền Nam nước Mỹ), Ave Maria của Bruno và các bài trong Trào lưu nhạc Blues[1] của Thánh nhạc da đen. Âm hưởng của những bài nhạc này còn đọng lại trong tâm hồn Sơn và người ta có thể tìm thấy chúng phảng phất trong những bài nhạc Sơn sáng tác tại phố biển Qui Nhơn sau đó. Câu cuối cùng của bài nhạc Trịnh Công Sơn phổ thơ của Trịnh Cung chịu ảnh hưởng rất rõ của bài Ave Maria của Bruno.

Ở chung với nhau một thời gian, sau đó Trương Văn Thanh và Thanh Hải thuê nhà ở gần trường để tiện việc đi học. Trịnh Công Sơn dọn sang ở nhà một người bà con gần rạp Kim Khánh. Nhiều lần bác Thanh – thân mẫu của Trịnh Công Sơn, vào thăm Sơn ở đó.

Thời gian hai năm (1963-1964) học Sư phạm tại phố biển Qui Nhơn là giai đoạn Trịnh Công Sơn sáng tác khỏe nhất. Ngồi uống rượu, hút thuốc bên bờ biển, anh dùng que diêm chấm mực kẻ khuôn nhạc trên mặt trong bao thuốc lá Bastos xanh và viết nhạc. Viết xong bài nào anh đưa cho các bạn trong Ban Văn nghệ của trường xướng âm hát ngay bài đó. Bởi thế, nhiều bài nhạc anh sáng tác thời ấy không thấy anh cho xuất bản nhưng các bạn anh đều thuộc.

Để có bản sắc riêng, Ban Văn nghệ yêu cầu Trịnh Công Sơn sáng tác một trường ca để trình diễn trong Đại nhạc hội lần thứ nhất. Lúc này Trịnh Công Sơn đang say sưa đọc Huyền thoại Xi-xíp (le Mythe de Sisyphe, 1942) của Albert Camus (nhà văn Hiện sinh của Pháp, được Giải thưởng Nobel năm 1957). Huyền thoại Xi-xíp kể lại chuyện một người suốt ngày bị buộc phải đẩy một tảng đá lên đỉnh núi rồi thả tay cho nó lăn xuống vực. Qui trình đó cứ lặp đi lặp lại không ngừng. Albert Camus đưa chuyện này ra để nói lên tính cách phi lý (l’absurde) của cuộc đời giống như chuyện dã tràng xe cát trong triết học phương Đông vậy. Trịnh Công Sơn thể hiện tư tưởng dã tràng xe cát vào trường ca mang tên Dã tràng ca. Đây là trường ca đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Bài này được Ban hợp ca của trường Sư phạm trình diễn rất thành công. Hiện nay ở Huế còn nhiều thầy cô giáo đã từng hát năm ấy vẫn còn thuộc bài Dã tràng ca.

Tại Qui Nhơn, Trịnh Công Sơn viết bài Hoa buồn (làm cho đặc san của trường) với những câu:

"Có nhiều đêm ngồi đây chong đèn buồn"
"Ngày sau còn ai nhắc tên mình không?"

Cùng thời với Hoa buồnChiều chủ nhật buồn, Vết lăn trầm, Nắng thủy tinh, Cát bụi,... Đặc biệt nhất là bài Biển nhớ. Đi theo bài hát này là một câu chuyện tình rất nên thơ.

Hoạt động văn nghệ trong trường Sư phạm lúc ấy có cô Bích Khê người Nha Trang. Bích Khê hát không hay nhưng cô dáng người nhỏ nhắn dễ thương. Trịnh Công Sơn khen là mi-nhon (mignonne) và đem lòng thương trộm nhớ thầm. Mùa hè năm 1963, ba anh em Thanh Sơn Hải không về quê. Trong lúc đó Bích Khê lại phải vào Nha Trang với gia đình. Đêm trước ngày tiễn Bích Khê, Trịnh Công Sơn hết sức xúc động. Ngồi trên bờ biển Qui Nhơn, nhìn về phía biển Nha Trang, Trịnh Công Sơn viết:

"Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về".

Lúc đó đường phố Qui Nhơn chưa có ánh điện nê-ông, nên cảnh đèn vàng đã đi vào ca từ của Sơn:

"Ngày mai em đi thành phố mắt đêm đèn vàng."

Dù Trịnh Công Sơn rất kín đáo nhưng bạn bè anh lúc đó đều biết anh dùng hai từ "sơn khê" trong câu:

"Trời cao níu bước sơn khê"

là có ý ghép tên anh (Trịnh Công) Sơn và tên người anh yêu (Bích) Khê.

Ngoài Bích Khê, Trịnh Công Sơn cũng có cảm tình với Phan Thị Thăng – người có giọng hát nhạc Trịnh Công Sơn đạt nhất tại Qui Nhơn lúc đó. Chính Thăng là người đầu tiên hát bài Chiều một mình qua phố trên đài phát thanh Qui Nhơn và đã làm cho bao trái tim xao xuyến. Chất giọng của Thăng rất đặc biệt, không giống ai. Sau ngày Thăng ra trường, Trịnh Công Sơn mong Thăng tiếp tục hát nhạc của anh. Nhưng rất tiếc gia đình của Thăng muốn Thăng đi dạy hơn là đi hát. Lời yêu cầu của Trịnh Công Sơn không được đáp lại. Nếu... biết đâu giọng hát của Phan Thị Thăng với sự giúp đỡ của Trịnh Công Sơn cũng đã trở thành bất hủ?

Ngoài Phan Thị Thăng, có Lê Thị Ngọc Trinh – người bạn từ Huế của Sơn. Trong các buổi trình diễn văn nghệ Sơn đã dành bài Lời mẹ ru để Ngọc Trinh cùng Bích Phương song ca. Sơn rất thích chất giọng Huế nhẹ nhàng của Ngọc Trinh. Về sau, Ngọc Trinh và Trịnh Công Sơn đều được bổ lên dạy học ở B’lao. Ở đó, Ngọc Trinh lại có dịp hát những bài hát mới của Trịnh Công Sơn sáng tác ở Cao nguyên bụi đỏ sương mù B’lao trong các năm 1964, 1965.

Trên đây chỉ mới là những nét phác thảo về giai đoạn Trịnh Công Sơn với phố biển Qui Nhơn. Không thể hiểu đúng sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn nếu không biết giai đoạn phố biển Qui Nhơn của anh. Rất mong các anh chị bạn của Trịnh Công Sơn trong giai đoạn ấy – những người chúng tôi đã tiếp xúc, đã ghi tên trong bài viết và cả những người chúng tôi chưa biết, chưa gặp – cung cấp thêm cho chúng tôi những thông tin, những hình ảnh mà chúng tôi chưa có để góp phần hoàn chỉnh tiểu sử của người nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn.

H.08 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thời học Sư phạm Qui Nhơn.

Ảnh chụp  trong xưởng vẽ của hoạ sĩ Đinh Cường.

Ảnh tư liệu của Đinh Cường.

H.09 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cùng bạn giáo sinh Sư phạm Qui Nhơn.

Ảnh tư liệu của Lê Thị Ngọc Trinh

H.10 La Quang Thanh với bạn Thanh Sơn Hải trong một tiết mục kịch động nhạc

tại Qui Nhơn năm 1962. Ảnh tư liệu Lê Thị Ngọc Trinh

H.11 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Thanh Hải đệm đàn cho Lê Thị Ngọc Trinh hát một bản tình ca

của Trịnh Công Sơn. Ảnh tư liệu của Lê Thị Ngọc Trinh

Bên dòng Thọ Lộc
Ngày thứ 49, Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm, 19.5.2001

[Nguồn: Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Công Sơn có một thời như thế (tái bản), Nxb Văn hóa 2016, tr.25-32]


[1] Nhạc Blues có nguồn gốc từ những điệu hát của miền Tây Phi châu được các nô lệ da đen mang sang Bắc Mỹ, đặc biệt là vùng châu thổ sông Mississippi (Mississippi Delta) tại miền Nam Hoa Kỳ. Tại vùng đất mới, điệu nhạc thô sơ này được phát triển thêm với các nhạc khí mới và trở nên rất phổ thông trong các cộng đồng nô lệ người Mỹ gốc Phi khi họ tụ tập với mục đích làm việc, gặt hái, tín ngưỡng hay tiêu khiển. Dần dần nhạc Blues được khám phá bởi các ông chủ của những người nô lệ này, và từ đó nó đã có ảnh hưởng đến hầu hết các loại nhạc tại Bắc Mỹ: nhạc Jazz, Big bands, Ragtime, Rhythm & Blues (R&B), Rock and roll, nhạc Pop, nhạc Country và ngay đến nhạc cổ điển của thế kỷ 20 nữa. Ngày nay, nhạc Blues được thưởng thức hay trình diễn bởi nhiều sắc dân của các văn hóa khác nhau trên khắp thế giới: từ Nhật sang đến Anh, từ Đông Âu cho đến Nam Mỹ, từ Nga xuống đến Úc...

 

 
 
Các bài Nghiên cứu khác